Đại học tiêu chuẩn quốc tế!
Ngành giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đang là nỗi âu lo triền m
iên của cả nước. “Khủng hoảng”, “cần đổi mới sâu sắc, toàn diện”, “cần một cuộc “cách mạng” giáo dục”… là những phát biểu thường được nghe từ nhiều hội thảo về vấn đề giáo dục từ nhiều năm qua.
Khao khát để có được một số trường đại học trong nước đạt “tiêu chuẩn quốc tế” đã được thể hiện qua nhiều nghị quyết, chủ trương của Nhà nước. “Thiếu chất lượng” thường là vấn đề được nêu lên để lý giải cho nguyên nhân đại học chúng ta chưa đạt được chuẩn quốc tế, từ chất lượng giảng dạy, giáo trình, đầu vào, đầu ra v.v...
Nhưng, chưa bao giờ ta được nghe một định nghĩa rõ ràng thế nào là đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn đó là gì, do ai công nhận? Cố gắng mày mò cải thiện chất lượng đào tạo để hy vọng ngày nào đó được công nhận là đã đạt được tiêu chuẩn quốc tế là cách giải bài toán theo chiều xuôi, đầy rủi ro bị lệch hướng, lãng phí công của. Bài toán cấp thời nên được giải theo lộ trình: định tiêu chuẩn tối thiểu là gì và tập trung làm bài toán ngược lại, ngắn nhất, khả thi nhất với điều kiện tài lực, để đạt được mục tiêu đó.
Tại Hội nghị toàn quốc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức tại TP.HCM ngày 5-1-2008, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân cho biết chưa có một trường đại học nào của Việt Nam nằm trong top 500 đại học hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng của Đài Loan, Trung Quốc. Kết quả xếp hạng 100 trường đại học hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2007 cũng không có trường đại học nào của Việt Nam. Xếp hạng top 100 trường ở khu vực Đông Nam Á có bảy trường đại học của Việt Nam, chỉ đứng trên Lào và Campuchia.
Thực ra, mục tiêu ưu tiên nhất của giáo dục ở bất cứ nước nào không phải là để được ai đó xếp hạng vào “top” bao nhiêu trường ở khu vực nào. Điều đó chỉ có giá trị tương đối để hỗ trợ cho mục tiêu tiếp thị. Vấn đề thực chất chính là bao nhiêu sinh viên tốt nghiệp ra trường có công ăn việc làm, đóng góp được một cách cụ thể và thiết thực cho những nhu cầu thực tế ở từng thời điểm của xã hội. Như vậy điều kiện đầu tiên là phải biết xã hội đang và sẽ cần gì, ở đâu?
Ở đây không có cách nào tốt hơn là để cơ chế thị trường tự điều chỉnh và quyết định mức độ và chất lượng của bên cung theo nhu cầu và điều kiện của bên cầu. Điều kiện tiên quyết là Nhà nước phải để cho đại học có quyền tự chủ về giáo trình, ngoại trừ một số lớp cơ bản mà Nhà nước có yêu cầu nhất định. Giá trị của từng đại học sẽ được xác định bởi chính người tiêu thụ sản phẩm giáo dục đại học - cũng là người đầu tư, tức sinh viên và gia đình họ: học ở đâu để ra trường làm được việc gì, lương bao nhiêu?
Giáo trình phải được chuẩn bị để tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên trong học tập và phải tập trung tạo công ăn việc làm cho sinh viên khi ra trường. Người sử dụng lao động hôm nay cần tuyển người làm được việc, là người thật việc thật của thị trường. Đây là một thị trường còn bỏ ngỏ và cơ hội rất lớn cho những đại học (cả công và tư) mạnh dạn tiên phong đào tạo đúng người cho đúng việc.
Hàng năm ở Mỹ, tạp chí US News and World Report công bố bảng xếp hạng những đại học hàng đầu của Mỹ theo từng loại trường. Chẳng hạn: đại học nghiên cứu; đại học giảng dạy; trường chỉ đào tạo đến bậc đại học, hoặc đào tạo cả sau đại học; kỹ thuật hoặc xã hội nhân văn… Trong bảng xếp hạng ấy, tiêu chí quan trọng nhất vẫn là: bao nhiêu sinh viên có việc làm sau khi ra trường bao lâu và lương trung bình là bao nhiêu. Không có trường nào được xếp hạng cao mà không tương xứng với các thứ hạng nói trên. Harvard, MIT, Yale luôn đứng đầu bảng vì họ thành công nhất với những chỉ tiêu này.
Hiện nay sinh viên trong nước đang phải ngồi lớp hơn 2.200 giờ để tốt nghiệp đại học - tức gấp 1,6 lần số giờ học một sinh viên cùng ngành ở Mỹ (chỉ cần khoảng hơn 1.400 giờ). Phải giải phóng giờ học để sinh viên có điều kiện tập trung học sâu hơn trong ngành chuyên môn, để họ có thể làm được cái gì ngay sau khi ra trường. Để hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho sinh viên, đại học cần phải tạo quan hệ với doanh nghiệp, các đoàn thể xã hội có liên quan đến ngành nghề đào tạo, qua đó nắm bắt được nhu cầu đầu ra và bén nhạy với đòi hỏi của thị trường. Đây cũng là điều kiện để sinh viên tiếp cận thực tế với những nơi sử dụng lao động, qua các chương trình thử việc (internship), để chuẩn bị cho sự hội nhập vào thị trường lao động sau khi ra trường.
Trong thực tế, xã hội còn coi trọng thi cử và bằng cấp - một thực tế khó có thể thay đổi trong một hay hai thế hệ - thì có lẽ yếu tố có tính quyết định cách học cũng như cách dạy hiệu quả nhất chính là cách soạn đề thi. Nếu đề thi có trọng tâm kiểm định thực tiễn những mục tiêu của đào tạo như đã nêu trên (yêu cầu của đầu ra) thì cách học của sinh viên và cách dạy của giảng viên (những yếu tố đầu vào) tất nhiên sẽ được điều chỉnh theo đó. Sửa đổi cách soạn đề thi ít phức tạp và có thể triển khai nhanh hơn là đặt vấn đề sửa đổi một loạt các chính sách, quy chế đào tạo. Đề thi khuyến khích tư duy phân tích, sáng tạo nên được dùng để tuyển sinh vào đại học (để có ảnh hưởng trên giáo trình trung học) cũng như để thi tốt nghiệp.
Thay vì đòi hỏi thí sinh phải giải một bài toán với một số giả thuyết có sẵn để đi đến một đáp số (khuyến khích cách học thuộc lòng một số bài giải có sẵn) thì nên nêu lên một vấn đề chung, đòi hỏi thí sinh phải tự đặt ra một số giả thuyết phù hợp và đề nghị giải pháp tối ưu dựa trên lý luận hợp lý để bảo vệ giải pháp đó (cách học đặt vấn đề, phân tích, lý luận và giải quyết theo điều kiện cụ thể).
Song song với cách đặt đề thi, cách đánh giá người dạy cũng cần được xét lại để tác động tích cực đến cách dạy, tránh bệnh thành tích và khuynh hướng đào tạo suông theo kế hoạch. Nhằm giúp sinh viên học tính tự lập và năng động trong công tác học tập, bộ máy đại học nên khuyến khích vai trò hướng dẫn của giảng viên hơn là vai trò giảng dạy. Giảng viên cũng cần có thời gian và được khuyến khích nghiên cứu và được tư vấn một cách cụ thể để có thể cập nhật kiến thức chuyên môn và phát triển khả năng đào tạo sát với nhu cầu thực tế xã hội.
Trở lại với cái gọi là “tiêu chuẩn quốc tế”. Trong thời đại hội nhập theo chuẩn quốc tế thì một trong những đòi hỏi ưu tiên là khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Đào tạo tiếng Anh không cần đầu tư lớn hay một giáo trình sáng tạo nào cả, mà chỉ cần một ý thức đúng đắn về cách dạy và cách học ngoại ngữ là sẽ mang lại hiệu quả. Với tư duy từ chương lâu nay, chúng ta đã phí phạm không biết bao nhiêu tiền của để đào tạo một thế hệ sinh viên, ngay cả sinh viên sư phạm chuyên Anh, mà phần lớn sau khi tốt nghiệp vẫn chưa đạt được tiêu chuẩn tối thiểu nghe tốt, nói tốt.
Học ngoại ngữ phải bắt đầu từ cái tai (nghe tốt), đến cái miệng (nói rõ), rồi mới đến đọc tốt và viết tốt. Một yêu cầu cụ thể cho sinh viên tốt nghiệp đại học là phải đạt được mức tối thiểu nào đó của một chương trình khảo nghiệm quốc tế như TOEFL, TOEIC… chứ không phải tiêu chuẩn ngoại ngữ do nhà trường tự đặt ra thường rất dễ dãi.
Ngoài ra, đại học của chúng ta cũng cần nghiên cứu một vài chương trình khảo nghiệm cho việc đào tạo sau đại học như GRE (khảo nghiệm kiến thức tổng quát) hoặc GMAT (để chuẩn bị cho chương trình cao học quản trị kinh doanh) là những chương trình chuẩn đã được thế giới công nhận. Các chương trình này sẽ giúp đánh giá khả năng lý luận và phản biện, cũng như kỹ năng diễn đạt một cách mạch lạc, súc tích của người theo học. Đó là những kỹ năng có giá trị bao quát, lâu dài và cũng là thước đo theo tiêu chuẩn quốc tế thật sự mà chúng ta có thể căn cứ vào đó để chuẩn bị cho sinh viên.
Nếu một trường đại học trong nước đào tạo được hầu hết sinh viên ra trường có việc làm đúng với khả năng đào tạo, có khả năng giao tiếp tiếng Anh tốt, và đạt được tiêu chuẩn cao qua các chương trình khảo nghiệp quốc tế (từ những chương trình như GRE, GMAT đến các chương trình chuyên ngành khác đã được quốc tế công nhận), thì đại học đó không chỉ đạt được yêu cầu của xã hội mà còn chuẩn bị giúp sinh viên học hỏi thêm và thăng tiến sau khi tốt nghiệp. Đây cũng có thể trở thành những tiêu chí có thể áp dụng được ngay, thay vì những điều kiện cần nhiều thời gian và vốn đầu tư lớn, đòi hỏi một cuộc “cách mạng toàn diện” khó thể thực hiện với thực trạng cơ cấu tổ chức xã hội như hiện nay.